articlewriting1

Truyện ngắn Một Đám cưới – Nam Cao – Tài liệu text

Học tập

Truyện ngắn Một Đám cưới – Nam Cao

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (82.6 KB, 8 trang )

(1)

Một đám cưới

Nam Cao

Nam Cao

D

ần thức dậy thì trong nhà còn tối om om. Ðêm tháng chạp, trời lâu sáng. Thật ra thì gà
gáy đã lâu. Tiếng gà gáy xơn xao. Và óc Dần cịn lưởng vưởng một ý nhớ mơ hồ, giống như
khi người ta nhớ lại những chốn mình đã qua trong một giấc chiêm bao: Dần chưa tỉnh hẳn
ra, Dần đã thấy những tiếng gà gáy rất mong manh, rất xa xôi vẩn lên trong giấc ngủ nửa mê
nửa tỉnh. Rồi thì Dần tỉnh hẳn. Có lẽ do một tiếng gáy cộc lốc của anh gà trụi trong chuồng
gà nhà bên cạnh. Con gà đang ở thời kỳ tập gáy, tiếng gáy ngắn nhưng đã vang động lắm. ấy
là một con gà có sức. Dần phác lại trong tưởng tượng cái hình dung lộc ngộc của nó, lấc cấc
và vụng dại như một anh con trai mười sáu tuổi, đôi chân cao, cái cổ trần ngất nghểu, cái
mào đỏ khè mới hơi nhu nhú, cái đuôi cụt ngủn. Anh chàng rất hay sang nhà nó tãi gio, tãi
rác, khiến nó bực mình đã mấy lần toan vụt chết.

ần thức dậy thì trong nhà còn tối om om. Ðêm tháng chạp, trời lâu sáng. Thật ra thì gàgáy đã lâu. Tiếng gà gáy xơn xao. Và óc Dần cịn lưởng vưởng một ý nhớ mơ hồ, giống nhưkhi người ta nhớ lại những chốn mình đã qua trong một giấc chiêm bao : Dần chưa tỉnh hẳnra, Dần đã thấy những tiếng gà gáy rất mong manh, rất xa xôi vẩn lên trong giấc ngủ nửa mênửa tỉnh. Rồi thì Dần tỉnh hẳn. Có lẽ do một tiếng gáy cộc lốc của anh gà trụi trong chuồnggà nhà bên cạnh. Con gà đang ở thời kỳ tập gáy, tiếng gáy ngắn nhưng đã vang động lắm. ấylà một con gà có sức. Dần phác lại trong tưởng tượng cái tưởng tượng lộc ngộc của nó, lấc cấcvà vụng dại như một anh con trai mười sáu tuổi, đôi chân cao, cái cổ trần ngất nghểu, cáimào đỏ khè mới hơi nhu nhú, cái đuôi cụt ngủn. Anh chàng rất hay sang nhà nó tãi gio, tãirác, khiến nó bực mình đã mấy lần toan vụt chết .

Dần nhỏm dậy. Nó sờ soạng ra khỏi cái ổ rơm rồi đi thẳng ra ngoài. Bên ngoài mịt mù
sương. Khí lạnh sắc như dao. Dần rùng mình và hắt hơi mấy cái ln. Nó thấy cần phải động
đậy ngay, cần phải làm ngay một việc gì cho nóng người: đã rét mà lại cịn đứng co ro thì chỉ
càng tổ rét. Nó mải mốt vơ lấy cái chổi để quét sân, quét ngõ. Việc quét tước ấy chẳng sáng
nào nó quên làm, dù sân nhà có bẩn hay khơng. ấy là một thói quen cũng như cái thói quen
dậy từ lúc hãy cịn đêm. Nết chăm chỉ ấy, nó học được mấy năm đi ở.

Dần đi ở từ năm chửa mười hai. Khi ấy, đầu nó cịn để hai cái trái đào. Nó mới biết cầm
vững cái chổi để quét nhà và thổi một niêu cơm con con không sống, không khê. Mẹ nó vốn
nghèo từ trong trứng nghèo ra, nên hay liệu, hay lo. Thị nghĩ rằng: Con mình đã lớn rồi, phải
uốn nắn ngay đi nhà mình vườn ít, ruộng không, cửi vải cũng không, nghĩa là công việc
chẳng có gì; nó ở nhà cũng chỉ chơi; để mặc nó lêu lổng chạy ra ngồi đường, đánh chắt,
đánh ô, rồi nó hư thân; chi bằng cho nó đi ăn đi ở với người ta, để người ta bắt nó cất nhắc
việc nọ, việc kia cho nó quen tay; có việc làm rồi mới biết việc mà làm, chỉ nhông nhổng
chơi quen, đến lúc phải làm tất gờ guộng chân tay, chẳng đánh đổ cái này cũng đánh vỡ cái
kia, cái thứ con gái mà cầm đến cái gầu không biết tát làm sao, đưa cho đám mạ không biết
cấy thế nào, bảo ngồi lên khung cửi nhắc lấy cái thoi thì lúng ta lúng túng, là thứ con gái

đáng cho hùm ăn thịt. Thị nhất định cho Dần đi ở để học cho quen công việc cửi vải, ruộng
vườn, sau này độ cái thân: ấy là cái lợi xa xôi. Nhưng lại còn cái lợi nhãn tiền: nhà đỡ một
miệng ăn. Nếu bớt được mỗi ngày vài lẻ gạo, thì ít ra các em Dần cũng được no hơn. Rồi có
được đồng công nào cũng là hay. Mà chẳng được thì mỗi năm người ta cũng thí bỏ cho cái
quần, cái áo. Bố mẹ, nếu chẳng được nhờ con thì cũng chẳng cịn phải lo lắng gì vào thân
nó.

(2)

đáng cho hùm ăn thịt. Thị nhất định cho Dần đi ở để học cho quen công việc cửi vải, ruộngvườn, sau này độ cái thân: ấy là cái lợi xa xôi. Nhưng lại còn cái lợi nhãn tiền: nhà đỡ mộtmiệng ăn. Nếu bớt được mỗi ngày vài lẻ gạo, thì ít ra các em Dần cũng được no hơn. Rồi cóđược đồng công nào cũng là hay. Mà chẳng được thì mỗi năm người ta cũng thí bỏ cho cáiquần, cái áo. Bố mẹ, nếu chẳng được nhờ con thì cũng chẳng cịn phải lo lắng gì vào thânnó.( 2 )

vào nhà bà chánh, cố nhiên là Dần chịu được, Dần sung sướng là khác nữa. Con người ta, có
cơm vào là có da, có thịt ngay. Chẳng lâu đâu. Người mẹ nghĩ và mừng. Thị chắc chỉ vài, ba
tháng sau, nếu Dần được một ngày rỗi rãi về chơi với các em, cả nhà sẽ ngạc nhiên thấy nó
béo như con cun cút. Mà trắng, mà đẹp, mà lành lặn, ra phết cơ con gái lắm!…

Mơ ước hão! Bởi vì ít lâu nay, Dần có về thật, nhưng nó vẫn gầy như một cái que. Nó khóc
hu hu. Nó địi ở nhà với các em, muốn cho ăn thế nào thì cho, muốn bắt làm gì thì bắt, chỉ
đừng bắt nó ở cho nhà bà chánh nữa. Cơm nhà giàu khó nuốt. ăn của họ mà khơng làm lợi
cho họ được thì họ làm cho đến phải mửa ra mà giả họ. Dần chân yếu tay mềm lắm. Nó thà
nhịn đói mà ở cửa, ở nhà cịn hơn. Mẹ Dần nhất định khơng nghe. Thương con thì để bụng.
Nuông con thà giết con đi. Trẻ con đứa nào chả thích ở nhà với bố, với mẹ để chẳng người
nào động đến thân? Ði ở cho nhà người ta, ăn cơm của người ta, lấy công của người ta, thì
cố nhiên là phải làm cho đáng cơm, đáng công của người ta. Làm không được người ta thiệt
thì người ta xót. Người ta xót thì người ta phải nói. Nói, mình nghe thì chớ, khơng nghe thì
người ta phải chửi, phải đánh. Người ta đánh chửi cho là phúc nhà mình đấy, khơng đánh,
khơng chửi, sao có nên thân người được? Thị bảo Dần: “Mày có hư thì người ta mới đánh;
đánh thế chứ đánh nữa tao cũng không thương chút nào; mày muốn sống, thì về nhà bà
chánh mà ở, khơng về thì đi đâu mặc kệ! Tao khơng chứa, tao khơng lấy gì ni được
mày…”.

Hỡi ơi! Người mẹ rất đáng thương của Dần chết đến hôm nay đã quá một năm rồi. Nghĩ đến
mẹ lúc nào, Dần cũng ngậm ngùi. Bởi vì bà nói thế, nhưng bà chẳng nghĩ thế đâu. Khi đã cố
làm ra mặt hắt hủi để cho Dần chịu đi rồi, bà ơm mặt khóc hu hu. Bà bảo chồng rằng: “Nghĩ

đến con lúc nào thì thương con đứt ruột. Nhưng biết làm sao? Trời bắt tội mình nghèo. Nó ở
nhà mình thì ăn cũng chẳng bao giờ được bữa no. Ðã đành ăn khơng no, nó cũng cịn sướng
hơn ở nhà bà chánh, được ăn no. Nhưng mình liệu có ni được nó suốt đời khơng? Rồi chỉ
vài ba tuổi nữa, có ai thương đến nó, xin nó cho con nhà người ta, mình đừng gả hay sao? Về
nhà chồng mà thổi cơm khơng chín, qt nhà chẳng nên thì liệu người ta có khỏi đào ơng,
bới cha khơng? Vả lại cái đời nó cịn dài. Khơng bắt nó ép mình, ép xác cho quen, rồi khổ
ngay vào chính cái thân của nó. Mình nghĩ đến nó nhiều chứ có phải bắt nó đi ở để hòng
được lợi mỗi năm một vài đồng bạc cơng đâu?”.

đến con khi nào thì thương con đứt ruột. Nhưng biết làm thế nào ? Trời bắt tội mình nghèo. Nó ởnhà mình thì ăn cũng chẳng khi nào được bữa no. Ðã đành ăn khơng no, nó cũng cịn sướnghơn ở nhà bà chánh, được ăn no. Nhưng mình liệu có ni được nó suốt đời khơng ? Rồi chỉvài ba tuổi nữa, có ai thương đến nó, xin nó cho con nhà người ta, mình đừng gả hay sao ? Vềnhà chồng mà thổi cơm khơng chín, qt nhà chẳng nên thì liệu người ta có khỏi đào ơng, bới cha khơng ? Vả lại cái đời nó cịn dài. Khơng bắt nó ép mình, ép xác cho quen, rồi khổngay vào chính cái thân của nó. Mình nghĩ đến nó nhiều chứ có phải bắt nó đi ở để hòngđược lợi mỗi năm một vài đồng bạc cơng đâu ? ” .

Bố Dần chẳng nói sao. Ơng chỉ thở dài. Nhưng ông cũng ngơ ngẩn hàng ngày, hàng buổi
như nhớ con lắm. Về sau, các em Dần lại kể với Dần như thế, nên Dần mới biết. Dần không
muốn làm khổ cha mẹ nữa, nên khổ đến chết cũng đành cắn răng mà chịu, không dám khóc
lóc địi về. Lâu dần rồi nó cũng quen đi. Cái sự khổ thì bao giờ cũng thế thơi. Nhưng khi
người ta đã nhất định chịu, thì khổ thế nào mà không chịu được.

Dần ở cho nhà bà chánh Liễu đúng hai năm. Nó mới về nhà từ dạo đầu giêng. Vụ mùa năm
ngoái, mẹ Dần đi tả mấy cơn, rồi lại không chịu kiêng khem, cứ đi làm; mưa nắng nhiễm vào
người – mà sức một người vừa mới ốm xong còn được bao nhiêu? – Thị phải lại một trận
kịch liệt rồi thì chết. Thành thử nhà chỉ còn một bố, là đàn ông, với hai đứa trẻ con, vắt gỉ
mũi chưa được sạch: chúng nó chưa biết làm gì cả. (Hai đứa áp với Dần, giá trời để cho
chúng nên người thì bây giờ đã đứa thổi được nồi cơm, đứa quét được cái nhà; nhưng một
năm xưa, hai đứa lên đậu cách nhau có vài ngày, rồi chết, cũng cách nhau có vài ngày). Bố
Dần, cố đợi hết năm, đến nói với bà chánh Liễu xin cho con gái mình về. Dần ở nhà coi sóc
các em, chăm mấy sào vườn bòn bán, nhặt nhạnh để cho bố đi làm. Bốn bố con lịu nhịu nuôi
nhau. Con nhà nghèo thường sớm biết, sớm khôn. Dần mới mười lăm mà đã quán xuyến
được mọi việc trong nhà, biết suy tính, biết liệu lo, chẳng kém gì một người nội trợ đã sành
sỏi lắm.

(3)

( 3 )

hạt muối cũng sinh ra hiếm nốt: mua một vài xu chẳng hàng nào chịu bán. Ðồng tiền thành
ra rẻ q. Cơng làm tuy có cao hơn, nhưng chẳng thấm vào đâu. Trước kia, mỗi người làm

mỗi ngày hào rưỡi thì đã gần đủ cả nhà ăn; bây giờ mỗi ngày được ba hào, tiền gấp hai,
nhưng nếu đem đong gạo thì chưa bằng một góc ngày xưa, thành thử một người ăn cũng hết.
Ngày làm đã vậy, cịn ngày nghỉ: có phải ngày nào cũng có người th đâu? Ðã thế lại cịn
bão, lại còn lụt, rồi lụt chán, đến vụ chiêm lại giở trị đại hạn. Rồi những nhà giàu, chúng
khơng thể chơn bạc giấy, nhất định để thóc mọc mầm trong nhà chứ không chịu bán. Gạo cứ
mỗi ngày một giá. Khơng biết rồi làm gì ra tiền mà đong?

mỗi ngày hào rưỡi thì đã gần đủ cả nhà ăn ; giờ đây mỗi ngày được ba hào, tiền gấp hai, nhưng nếu đem đong gạo thì chưa bằng một góc thời xưa, thành thử một người ăn cũng hết. Ngày làm đã vậy, cịn ngày nghỉ : có phải ngày nào cũng có người th đâu ? Ðã thế lại cịnbão, lại còn lụt, rồi lụt chán, đến vụ chiêm lại giở trị đại hạn. Rồi những nhà giàu, chúngkhơng thể chơn bạc giấy, nhất định để thóc mọc mầm trong nhà chứ không chịu bán. Gạo cứmỗi ngày một giá. Khơng biết rồi làm gì ra tiền mà đong ?

Một đêm, sau khi đã than thở với con hết quá một trống canh rồi, bố Dần thở dài bảo con
rằng:

– Cơ cực này, nếu còn ở nhà, rồi đến chết đói cả lũ mà thơi. Bây giờ mà còn thế, đến tháng
hai, tháng ba này còn khổ đến đâu? Bố con mình có thân thì phải liệu dần đi. C ũng chẳng
còn mấy ngày nữa mà đã Tết, thơi thì ta cũng cố mà chịu vậy qua giêng rồi sẽ tính.

– Thầy bảo: con tính thế nào? Nhà mình thì chỉ có cấp làm thuê. Thời vụ lại hết rồi. Qua
giêng, con chắc mười ngày nghỉ, chưa chắc có một ngày có việc.

– Ấy thế mình mới lại càng cần phải tính. Nếu có việc thì cịn phải lo gì nữa? Chẳng được
cơm thì cũng được cháo, miễn là khơng chết lả… Nhưng khơng có việc!… Cho nên tao định
lên rừng một chuyến.

– Eo ơi!

– Việc gì mà “eo ôi?”. Bây giờ người ta đi như đi chợ. Nghe nói trên ấy làm ăn cịn dễ. Làng
ta, về cánh nhà ông trương Huấn đấy, họ đi tất cả bằng ấy anh em, mà anh nào về cũng có
tiền.

– Tiền rừng, bạc bể chả dễ nuốt được đâu. Vơ phúc mà ngã nước một chuyến thì lại được!…
– Thì chỉ đến chết là cùng, chứ gì? Cịn hơn ngồi nhà mà chết đói. Thế mày bảo khơng liều
thân đi như thế, thì cịn xoay xấp gì để kiếm ra tiền được nữa, nào?

ồ mà đúng như vậy thật. Dần chẳng còn biết đáp sao được nữa. Nó đành lẳng lặng. Câu
chuyện ngắt ra vài phút. Trong khi ấy, cả hai đều nghĩ ngợi. Dần bỗng hỏi:

– Cả chúng con cũng đi à?

– Khơng. Tao hãy đi một mình trước, xem sao.
Dần vội kêu lên:

– Chịu thôi! Chúng con chả dám ở nhà đâu. Ðêm hơm có ba đứa trẻ ranh!…

Nó sợ có nắm gạo hay củ ráy, củ khoai cũng không giữ được mà ăn. Nhưng thầy nó bảo:
– Tao đã liệu chỗ ấy rồi. Vườn đất với các em, tao sẽ nhờ chú Lữ trông nom. Bòn bán thế
nào chả đủ cho hai đứa chúng nó ăn. Mà khơng đủ thì tao đến…

Cịn nó? Chắc thầy nó lại định cho nó đi ở cho nhà bà chánh Liễu hay nhà nào khác đấy.
“Thì cũng được!…”. Dần nghĩ vậy. Cái thân nó, nào nó có cần gì? Nhưng nghĩ đến cảnh nhà
tan tác mà buồn. Rồi đây bố một nơi, con một nẻo, chị em mỗi đứa nhờ vả một người… Nó
đã sắp nói một lời gì để can cha, thì cha đã bảo:

– Cịn mày thì tao cho người ta cưới.

Chuyện cưới xin khiến Dần thèn thẹn. Thành thử nó lại khơng tìm được câu gì để nói. Vẫn
người bố nói:

– Thơi thì trước sau cũng một lần. Có rùi gắng cũng chẳng rùi gắng được bao nhiêu. Mắc cái
người ta xin cưới mấy lần rồi. Tao khất mãi để cho hết tang bu mày đã; nhưng người ta nhất
định xin lo trước. Chết cái con gái người ta cũng sắp cưới rồi: nhà người ta cũng neo người;
không cưới mày về thì ngay đứa sai vặt cũng khơng có nữa. Vả lại chỗ người ta với mình,
khơng lẽ thế nào? Người ta ăn ở phải thì mình cũng phải ăn ở phải, thấy người ta nói mãi,

tao cũng nể.

(4)

tao cũng nể.( 4 )

– Nể! Nể cái gì! Thầy cứ bảo rằng: mẹ con chết đi rồi, hai em thì cịn dại, chỉ có con hơi lớn
một tí phải ở nhà để thổi cơm, nấu nước.

– Thì tao vẫn bảo người ta thế. Nhưng người ta không chịu.
– Khơng chịu là khơng chịu thế nào? Quyền cịn ở mình…

– Thì vẫn là quyền cịn ở mình? Cho nên người ta có dám bắt mình đâu? Người ta chỉ cố nài.
Người ta nói khó với mình. Tao thề với mày: hai ba lần bà ấy không khóc với tao, tao chết!
Rồi bà ấy lạy. Bà ấy bảo: Thế này này, ông ạ: ông cũng khổ, nhưng tơi cịn khổ hơn ơng,
thầy cháu chết đi, tơi chỉ được có mình cháu là con trai, ơng cố thương tơi…”. Như thế thì tao
cịn biết từ chối người ta thế nào cho tiện?

Rồi thầy Dần nói nhỏ:

(5)

( 5 )

Ai cười đến hạng nhà chúng ta? Cịn như sự tiền nong… đáng lẽ tơi chẳng nên xin thêm đồng
nào nữa mới phải (hồi mẹ cháu mất, tôi cất lấy hai chục đồng bạc của bà, là tôi phải nghĩ),
nhưng phương ngôn dạy rằng: giàu bán chó, khó bán con; tơi cũng cịn đồng cơng, đồng nợ,
tất cả độ mười đồng, kể cái sự bắt bà trả cả thì cũng khơng dám bắt, nhưng tôi xin thêm dăm
đồng nữa để trang trải những chỗ tôi vay mượn để lo cho bu cháu, hồi bu cháu mất. Như thế
cũng như là tiền của cháu, cháu bỏ ra để trả nghĩa cho bu cháu. Tơi khơng dám tơ hào gì vào
đấy. ấy là tao cũng nói dối bà ấy thế, chứ cơng nợ tao cũng chưa trả vội; tao nắm lấy dăm
đồng ấy, để ra giêng đi lên rừng…

Câu chuyện đêm hôm ấy Dần đang thầm nhắc lại, trong khi đưa đẩy cái chổi cùn trên mặt
cái sân con. Bởi vì hơm nay chính là ngày bà mẹ chồng sẽ đến rước Dần đi. Ðêm hôm qua,
đợi hai đứa bé ngủ rồi, hai cha con lại thở dài, thở ngắn với nhau. Dần khóc đến quá nửa
đêm, rồi thiếp đi lúc nào chẳng biết. Sáng dậy, Dần có cảm tưởng như nó mới chợp mắt đi
một tý. Nó thấy người mỏi mệt. Dù vậy, nó cũng chạy ra ngồi qt thóc…

Dần qt xong thì ở đằng đông, mặt trời đã nhô lên. Những tia sáng đầu tiên chọc thủng tấm
màn sương, rồi xé toạc mãi ra. ánh sáng tràn đi. Trong khoảnh khắc, trở nên quang hẳn…
Dần ra ao, rửa mặt. Lúc trở về nhà, nó thấy bố và hai em đã dậy rồi. Hai đứa con, mỗi đứa
ôm một đùi cha.

Người cha ngồi lử thử, lừ thừ. Ðôi mi mắt trông có vẻ hơi sưng. Dần cúi mặt, bởi nó đốn
rằng đêm hơm qua, cha cũng khóc. Nó vờ tìm cái chổi, tuy nó biết nhà khơng cịn cái chổi
nào nữa, ngồi cái nó vừa qt và để ngồi đầu chái…

Thầy nó bảo:

– Hơm nay mày phải xuống chợ một tý đi, con ạ.
– Mua bán gì mà đi chợ?

– Mua mấy xu chè tươi, với mấy quả cau. Người ta đến, cũng phải có bát nước, miếng trầu
tươm tất chứ?

– Chào!… Vẽ chuyện!

– Sao lại vẽ chuyện? Khơng có, khơng coi được.

Dần cười tủm tỉm. Thằng em lớn, tỳ một tay lên đùi cha, múa may tay kia và nhún nhảy
người, giễu chị:

– Lêu lêu! Lêu lêu? Có người sắp được đi lấy chồng… Lêu lêu.

Dần khoặm mặt, lườm em. Người cha sợ con gái nhìn xấu hổ, củng vào đầu con trai một cái
và mắng nó:

– Im thằng này!… Ðể cho người ta dặn nó. Mua độ hai xu chè…

– Rầy hai xu, hàng chè nó chả bán thì sao… Dần kêu lên thế và cố cười to để cho khỏi thẹn.
Người cha cũng cười và hỏi:

– Hai xu không bán, thì mấy xu mới bán?

– ít nhất là năm xu. Mua ít nó khơng có tiền trả lại.

– Thì mua cả năm xu vậy. Năm xu thì nấu được mấy ấm?

– Một ngàn ấm… Ông lão cả đời không đi chợ, cứ tưởng chè rẻ lắm. Quen với ngày xưa, độ
một xu một ấm bây giờ năm xu, nấu đặc chỉ được một ấm là hết xoắn.

Thầy Dần lè lưỡi ra:
– Èo! Mẹ ơi!

– Thật… Khơng có thế, cứ cổ con mà chặt? Muốn mua thì mua, chẳng mua thì đừng, chứ cái
sự đắt thì ngang ngang với nhân sâm.

– Ðắt thì cũng phải mua. Năm xu chè, với hai quả cau ngon ngon một tý.
– Cau ngon phải tám, chín xu một quả.

– Vị chi đi ba xu một miếng trầu?

(6)

( 6 )

– Trời đất ạ!… Có đời nào như vậy? Cái thổ tả gì cũng đắt!… cho nên tao vẫn bảo: Cái lúc
này chẳng nên giở giang ra làm gì. Mọi đồng mọi tốn. Giá làm độ mươi lăm cỗ, chắc mất
đến năm chục bạc. Miếng bùi chui qua cổ; mình ăn một bữa có no được bằng đời đâu, mà
người ta phải chạy cỗ cho họ đương nhà mình thì khổ. Thà bất nhược là ta chước hết?…
– Ấy thầy thì chỉ thế… Cái gì cũng chước! Thành thử ra con mình chỉ theo khơng.

– Theo khơng cũng được. Mẹ mày ngày xưa cũng chỉ theo không tao đấy. Thế mà cũng ăn ở
với nhau được mãi, sinh con đẻ cái, mà lại còn thương yêu nhau bằng tám những cặp vợ
chồng cưới linh đình. Mẹ kiếp! Lắm đám cưới linh đình, mà rồi lại chả bỏ nhau ùn ùn ra đấy
à?

Dần lại cười tủm tỉm. Bởi nhắc đến vợ, thầy nó bỗng nhớ ra một điều…

– Tý nữa quên! Con nhớ mua mấy nén hương… Hôm nay là ngày cưới con, cỗ bàn đã chả có
thì thơi, mấy nén hương cũng khơng có nốt thì phải tội…

Cái ý ấy – sự nhớ tưởng đến người đã khuất – khiến cả hai bố con cùng buồn bã. Mắt rơm
rớm nước, thầy nó thở dài rồi bùi ngùi bảo:

– Biết vậy, tao cũng bảo bà ấy biện một mâm để cúng bu mày. Người sống, chẳng có thì thơi,
nhưng người chết…

Dần thổn thức. Nó sợ cịn đứng đấy thì nó sẽ khóc ịa lên mất. Nó cố bảo:
– “Thơi! Con đi chợ…” rồi chạy ra. Ra đến sân nó mới nghe thấy thầy nó bảo:
– Ừ con đi.

Xế chiều hôm ấy, bà mẹ chồng và chồng Dần mới đến. Cả hai cùng mặc quần áo cánh. Bà
mẹ khoác một cái áo nâu dài đã bạc ở trên vai. Chú rể xách một chẽ cau, chừng một chục
quả. Vào đến nhà, y lúng túng không biết đặt đâu. Bà mẹ trông thấy bảo Dần:

– Cho bu mượn cái đĩa đi, con!

Mặt Dần đã đỏ bừng. Hai đứa em nó, trơng thấy, cười rúc rích. Nó lợi dụng câu sai của mẹ
chồng, để chạy tót ra chái đứng. Một lúc lâu nó cũng khơng vào. Thầy nó phải đỡ lấy chỗ
cau ở tay bà mẹ chồng, đặt lên giường thờ mẹ nó. Rồi thầy nó nói thật to:

– Ði nấu nước đi con!

Không thấy con gái thưa, ông phải bảo thằng con trai lớn:
– Chạy ra bảo chị đun ấm nước.

Rồi ơng thân hành đi lấy chìa vơi ra để têm trầu. Bà mẹ chồng có lời ngay:

– Thưa ơng, ơng đã có lịng thương đến cháu, mà xét ra, như thế này thì thật ơng thương q,
thương mọi nhẽ, cái gì ơng cũng châm chước đi cho cả, khiến chúng tôi cảm tạ cái bụng ông
mà lại lấy làm xấu hổ về cái cách chúng tôi xử lắm. Chúng tôi xử thế này thật quả là không
phải. Nhưng lạy Trời, lạy Ðất!… Chúng tôi cũng muốn nghĩ thế nào kia nhưng ông trời ông
ấy chỉ cho nghĩ đến thế thơi, thì cũng phải rầu lịng mà chín bỏ làm mười, chứ như ơng thì
thật một bỏ làm mười, mà không được một cũng bỏ làm mười. Có vậy thì cơng việc của
cháu mới xong xuôi được. Giá phải bố vợ như bố vợ nhà khác, nhất nhất cái gì cũng bắt đủ
lề lối, thì nhà như nhà chúng tơi lấy gì mà lo được? ít là cháu suốt đời khơng có vợ. Nhưng
phúc làm sao, lại gặp được ông bố vợ thương con rể như ơng, thì có phải ơng trời ơng ấy
cũng cịn thương nhà chúng tơi lắm lắm khơng?

Thơi thì bây giờ mọi sự ơng đã thương cho cháu cả rồi, hôm nay tiện được ngày, tôi cũng
biện cơi trầu đến kêu với ông để ông cho cháu được lễ các cụ – trước là lễ gia tiên, sau là lễ
bác nhà ta, sau nữa ơng lại cho cháu lễ sống ơng, (chẳng có tiền bạc gạo lợn, hay mâm cao
cỗ đầy thì cũng phải lấy đầu làm lễ gọi là chút lòng thành của con, cháu các cụ) – rồi xin
phép ông để chúng tôi đưa cháu về nhà làm ăn.

Ðáp lại bao nhiêu lời bóng bẩy, xa xơi ấy, ông bố vợ chỉ trả lời gọn thon lỏn một câu:
– Vâng! Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã.

(7)

( 7 )

– Hễ được nước thì bắc lên đây, con nhé!

Rồi ơng ngồi lử thử. Bởi vì ơng buồn lắm. Chỉ lát nữa là người ta rước Dần đi. Ðêm hôm
nay, chỉ cịn mình ơng với hai đứa trẻ con. Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày
vợ ông mới chết đi. Rồi chỉ mươi bữa, nửa tháng là ông đã phải bỏ nốt hai đứa con trai để
ngược… Chao ơi! Buồn biết mấy?… Ơng đờ đẫn cả người. Ơng nghĩ bụng rằng: giá Dần
khơng phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng; ông cứ ở nhà với ba
con, bố con đùm bọc lấy nhau, bây giờ bỏ lại hai đứa bé mà đi, ơng thương chúng nó q…
A thì ra ơng phải đi nơi khác làm ăn, chẳng phải vì cớ gì khác mà chỉ vì Dần phải đi lấy
chồng, Dần đi lấy chồng, không ai trông coi vườn đất, nhà cửa, con cái cho ông nữa… Ông
buồn quá. Ông đáp lại những câu rất dài dịng của bà thơng gia bằng những câu ngắn ngủn.
Bà thông gia, trái lại nhiều lời lắm. Bà vui vẻ. Bà nói ln. Bởi tài ăn nói của người ta, một
đời mới có dịp dùng đến độ vài lần. Bà thì chỉ một lần thơi, bởi vì bà có mỗi một mống con
trai. Lấy một con vợ cho con, có dễ đâu? Nhất là mình lại khơng có nhiều tiền. Cơng việc
phải qua mấy mươi nấc, mấy mươi cầu. Chưa cưới được vợ về cho con, thì cịn là đi lại mỏi
chân, van ông lạy bà sái hàm răng… Công việc của bà, mười phần xong đến chín phần rồi.
Cịn một tý chút nữa mà thơi. Tội gì khơng ngọt ngào với người ta cho yên ổn cả. Người ta
gả con gái, đã chẳng được gì thì cũng phải được lời nói mát lịng, mát ruột cho hả dạ…
Ðến tối, đám cưới mới ra đi. Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái nhà trai. Ông bố vợ đã tưởng
không đi. Nhưng bà mẹ chồng cố mời. Vả lại nếu ơng khơng đi, thì hai đứa bé cũng khơng
thể đi mà Dần thì đang khóc lóc. Nếu chỉ có mình nó ra đi thì có lẽ nó cũng khơng chịu nốt.
Ơng đành kéo mấy cành rào lấp ngõ rồi đi vậy.

Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy
trên vai. Dần mặc những áo vải ngày thường nghĩa là một cái quần cồng cộc xẫng và đụp
những miếng vá thật to, một cái áo cánh nâu bạc phếch và cũng vá nhiều chỗ lắm, một bên
tay rách quá, đã xé cụt gần đến nách. Nó sụt sịt khóc, đi bên cạnh mẹ chồng. Chú rể dắt đứa
em lớn của Dần. Cịn thằng bé thì ơng bố cõng. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng
tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ…

Ðến nhà trai, bà mẹ chồng mời bố Dần uống nước ăn trầu. Rồi bà giết một con gà, dọn cho
ba bố con ông một mâm cơm. (Dần vừa thẹn vừa buồn không chịu ngồi ăn). Ba bố con lặng

lẽ ăn. Người cha ăn có vài lượt cơm, rồi buông bát đĩa, ngồi xỉa răng đợi cho hai đứa con ăn.
Ông thúc chúng ăn nhanh lên, rồi còn về kẻo khuya. Thằng lớn và cơm phùng mồm ra, bị
nghẹn mấy lần. Khi cả hai con đã thơi cơm, ơng cho chúng nó uống nước rồi đứng lên, chào
bà mẹ chồng Dần để ra về. Ông dắt thằng lớn và cõng thằng bé trên lưng. Dần đứng đợi cha
ở ngồi sân. Nó vẫn cịn dụi mắt. Người cha ái ngại, đứng lại nhìn con một thống rồi âu
yếm bảo:

lẽ ăn. Người cha ăn có vài lượt cơm, rồi buông bát đĩa, ngồi xỉa răng đợi cho hai đứa con ăn. Ông thúc chúng ăn nhanh lên, rồi còn về kẻo khuya. Thằng lớn và cơm phùng mồm ra, bịnghẹn mấy lần. Khi cả hai con đã thơi cơm, ơng cho chúng nó uống nước rồi đứng lên, chàobà mẹ chồng Dần để ra về. Ông dắt thằng lớn và cõng thằng bé trên sống lưng. Dần đứng đợi chaở ngồi sân. Nó vẫn cịn dụi mắt. Người cha ái ngại, đứng lại nhìn con một thống rồi âuyếm bảo :

– Thơi! Thầy cho em về nhé.

Dần khóc nấc lên. Hai đứa em khơng cịn chế nhạo nữa. Thằng lớn chực khóc. Thằng bé
ngây mặt ra vì khơng hiểu sao cả. Người cha mắng yêu con:

– Mẹ chúng mày!…

Bà mẹ chồng thấy Dần khóc quá, chạy ra. Bố Dần vội bước đi. Dần chạy theo cha, nức nở:
– Thầy!… Thầy…

– Mẹ mày!… nín đi cho thầy về.
– Thầy đừng… đi… lên rừng!

Người cha thấy lòng thổn thức và đáp liều:
– Ừ, thì thơi… Mẹ mày!

(8)

( 8 )

Source: https://skinfresh.vn
Category: Học tập