articlewriting1

Khoán 10 và khoán 100 trong nông nghiệp

Tin tức tổng hợp


Nguyên tắc: quản lý và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng
đất, quản lý và điều hành lao động phải trên cơ sở gắn với kết quả cuối cùng
của sản xuất, thực hiện khoán theo 5 khâu và 3 khâu; trong phân phối giải quyết
hài hoà mối quan hệ lợi ích người lao động.
Phạm vi: áp dụng đối với mọi loại cây trồng và vật nuôi.
Khoán 100 đã đưa lại tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và
hộ gia đình cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá
trình dân chủ hoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng
đất, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát
triển sản xuất. Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế
tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian đầu, khoán 100
đã có tác dụng làm sống động nền kinh tế nông thôn và tạo ra một khối lượng
nông sản lớn hơn so với thời kỳ trước.
Tuy vậy, khoán 100 cũng chỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần vì
cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn được duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn
bộ hệ thống tái sản xuất xã hội trong nông nghiệp. Hệ thống này cùng tính chất
mệnh lệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vai người nông dân, trước hết là
hộ nhận khoán. Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu
đời sống nên đã phải trả lại bớt ruộng đất.
Trước đòi hỏi của cuộc sống, nhiều cấp uỷ đảng ở địa phương đã chủ động chuyển
sang khoán gọn và sau đó được Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4-1988) xác
nhận và thường gọi là khoán 10. Cùng với việc thực hiện khoán 10 là sự đổi mới
toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới hoạt động kinh tế – xã hội
ở nông thôn. Từ đây, chức nǎng kinh tế của hộ nông dân được xác lập trở lại.
Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá VI) tháng 3-1989 và Đại
hôi đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định hộ nông dân là một đơn
vị kinh tế tự chủ sản xuất hàng hoá. Đổi mới hình thức và nội dung hoạt động
của các hợp tác xã nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm nǎng kinh tế hộ nông dân
và nông nghiệp, từng bước chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc sang sản xuất hàng
hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nguyên tắc: quản lý và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất, quản lý và điều hành lao động phải trên cơ sở gắn với kết quả cuối cùng của sản xuất, thực hiện khoán theo 5 khâu và 3 khâu; trong phân phối giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích người lao động.Phạm vi: áp dụng đối với mọi loại cây trồng và vật nuôi.Khoán 100 đã đưa lại tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ gia đình cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá trình dân chủ hoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng đất, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát triển sản xuất. Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian đầu, khoán 100 đã có tác dụng làm sống động nền kinh tế nông thôn và tạo ra một khối lượng nông sản lớn hơn so với thời kỳ trước.Tuy vậy, khoán 100 cũng chỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần vì cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn được duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội trong nông nghiệp. Hệ thống này cùng tính chất mệnh lệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vai người nông dân, trước hết là hộ nhận khoán. Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu đời sống nên đã phải trả lại bớt ruộng đất.Trước đòi hỏi của cuộc sống, nhiều cấp uỷ đảng ở địa phương đã chủ động chuyển sang khoán gọn và sau đó được Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4-1988) xác nhận và thường gọi là khoán 10. Cùng với việc thực hiện khoán 10 là sự đổi mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới hoạt động kinh tế – xã hội ở nông thôn. Từ đây, chức nǎng kinh tế của hộ nông dân được xác lập trở lại. Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá VI) tháng 3-1989 và Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất hàng hoá. Đổi mới hình thức và nội dung hoạt động của các hợp tác xã nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm nǎng kinh tế hộ nông dân và nông nghiệp, từng bước chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.